Cuộc chiến trên Mặt trận phía Bắc, những gì đã qua – Xã hội

LTS: Tiến sĩ Vũ Cao Phan, nguyên Giảng viên Khoa Lịch sử Nghệ thuật Quân sự, Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày nổ ra cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc trước cuộc tấn công của Trung Quốc.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết này và cảm ơn Tiến sĩ Vũ Cao Phan! Văn phong và nội dung bài viết thể hiện góc nhìn của tác giả.

Chiến tranh chính thức nổ ra rạng ngày 17/2/1979, khi mấy chục vạn quân Trung Quốc đánh tràn sang đất Việt Nam trên toàn bộ chính diện gần một ngàn năm trăm kilômet sáu tỉnh biên giới phía bắc, nơi lúc ấy hầu như chỉ có bộ đội địa phương, dân quân tự vệ cùng một số sư đoàn mới được thành lập. 

Cuộc “trừng phạt” ấy diễn ra trong vòng 1 tháng, tính đến khi Trung Quốc rút các lực lượng của mình về nước. Trên thực tế cuộc chiến tranh này kéo dài 10 năm, tương đương với các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và là “cuộc chiến tranh Đông Dương thứ ba” như báo chí nước ngoài đã viết. 

Chúng ta vẫn gọi “Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc” và “Cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam” như những cuộc chiến riêng biệt nhưng theo tôi, xét về nguyên nhân và kết quả, cả hai cuộc chiến tranh này nên có một tên chung, nhất là nó diễn ra đồng thời, tác động lẫn nhau chặt chẽ. Người viết muốn nói nó là một. 





Tiến sĩ Vũ Cao Phan, ảnh do tác giả cung cấp.

“Campuchia Dân chủ” đã chống phá Việt Nam ngay từ khi quốc gia này được thành lập, thậm chí từ khi họ còn là Khmer Đỏ trên bưng. 

Sau Mậu Thân 1968, nhiều cá thể cán bộ, bộ đội trú đóng trong vùng Đông Bắc Campuchia bị giết. Đã có những xe vận tải lương đạn của Bộ đội 559 bị cướp. 

Lấy cớ với Hiệp định Genève 1954 Việt Nam có một nửa đất nước, Lào có hai tỉnh, còn Campuchia chẳng có gì, Khmer Đỏ còn gây áp lực đòi ta tiếp sức cho chúng chống lại chính quyền Xihanuc đang giúp đỡ Việt Nam. 

Sau năm 1975, mọi việc rõ ràng hơn. Họ tuyên bố sẽ đánh chiếm thành phố Hồ Chí Minh cùng với ngày càng dày các vụ tấn công biên giới lãnh thổ Việt Nam, bắn phá giết chóc nhân dân rất dã man, tàn bạo, điển hình là vụ thảm sát Ba Chúc (An Giang) tháng 4/1978, hơn 3.000 dân chỉ còn 3 người sống sót. 

Các cuộc tấn công một cách có hệ thống đã buộc quân đội Việt Nam phản công trong một cuộc tổng công kích, bắt đầu từ 25/12/1978, cũng là để đáp lời kêu gọi của lực lượng Khmer yêu nước trước cuộc diệt chủng diễn ra ở đất nước họ. 

Trên đất Campuchia lúc đó có hơn ngàn cố vấn nước ngoài, chủ yếu là cố vấn quân sự, nhưng họ cũng không kịp giúp cho đất nước này tổ chức phòng ngự mà là một cuộc tháo chạy hỗn loạn về phía Poi Pét, biên giới Thái Lan.

Cuộc tiến công mạnh mẽ, áp đảo của Việt Nam đã tạo ra những “ nguy cơ tiềm tàng”. 






Người đứng đầu Ban liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tuyên bố trong một cuộc họp lúc đó: Những người Trung Quốc trên đất Campuchia là công dân Campuchia, khi chiến tranh kết thúc quan hệ giữa chúng ta với họ là quan hệ với người Campuchia

Sự lo xa đó có lẽ không cần thiết. 

Bởi vì, trong cuộc truy kích với các nâng mũi s linevu hồi, Quân đội Việt Nam nhận được lệnh không thắt gọng kìm ở Poi Pét, để mặc Ban lãnh đạo Campuchia Dân chủ cùng với các cố vấn của họ có thể chạy thoát qua biên giới.  

Phnom Penh thất thủ sau một tuần, BBC gọi đó là “cuộc tiến quân nhanh nhất thế giới”, nhưng sự thực những trận đánh đẫm máu nửa du kích, nửa chính quy, những trận đánh khiến quân đội Việt Nam phải ở lại đất này thêm 10 năm chưa bắt đầu, do Khmer Đỏ bảo toàn lực lượng, tản mác trong rừng. 

Cuộc chiến tranh trên Mặt trận phía Bắc nối tiếp ngay cuộc chiến tranh trên Biên giới Tây Nam. 

Phía Trung Quốc đã công bố đây là cuộc phản kích tự vệ chống lại sự xâm lấn bằng vũ lực của Việt Nam để làm yên lòng dư luận trong nước. 

Đặng Tiểu Bình thì tuyên bố sẽ “dạy cho Việt Nam bài học” khi đi thăm Thái, Mỹ, Nhật… trước đó và nhận được sự “hiểu biết” từ các nước này.  

Gần đây một số nhà nghiên cứu đã đưa ra tới bốn, năm, thậm chí cả chục nguyên nhân cho cuộc chiến tranh này. 

Nhưng ngay lúc đó, ai cũng có thể hiểu rằng nếu không có sự thất thủ của Campuchia Dân chủ – sự thất bại của Khmer Đỏ – thì sẽ không có cuộc đại tấn công “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Nghĩa là nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân phát động cuộc chiến tranh này từ phía Trung Quốc là để cứu Khmer Đỏ.

Lịch sử ghi nhận, thượng tuần tháng 2/1979, Quân ủy Trung ương Trung Quốc quyết định tổ chức Bộ chỉ huy chiến dịch với quyết tâm “đánh mạnh, đánh đau” để buộc Quân đội Việt Nam phải rút lực lượng khỏi Campuchia. 

Nhân dân Nhật báo ngày 27/1/1979 không úp mở: “Sự thất thủ của Phnom Penh chính là lý do…quan hệ với Việt Nam đã vượt qua giới hạn…”

Nhưng cuộc tiến công của Trung Quốc đã không đạt được mục tiêu ấy ngay từ đầu bằng chiến thuật biển người, tốc chiến tốc thắng.






Quân đội của họ đã tiến bước chậm chạp bởi sự đánh chặn quyết liệt của các lực lượng tại chỗ, mặc dù Việt Nam chưa tổ chức được phòng ngự sâu, phòng ngự cơ bản. Địa hình và công tác hậu cần, tiếp liệu kém cỏi của phía Trung Quốc là một nguyên nhân khác. 

Đầu tháng 3, khi những quân đoàn chủ lực thiện chiến được điều động ra từ phía Tây Nam chiếm lĩnh các vị trí then chốt, Quân đội Việt Nam quyết định một cuộc phản công trên mặt trận Lạng Sơn, nơi bốn sư đoàn Trung Quốc đang tác chiến. 

Chắc chắn, đây sẽ là một quyết định tiêu diệt chiến đẫm máu. Nhưng nó đã không xảy ra khi Việt Nam ra lệnh tổng động viên và ngay sau đó Trung Quốc tuyên bố rút quân ngày, 5/3. Quân đội Việt Nam không giành quyền truy kích. 

Trung Quốc rút hết quân về bên kia biên giới ngày 16/3/1979 nhưng cuộc chiến trên mặt trận phía Bắc vẫn tiếp diễn.

Những cuộc xung đột bằng súng, pháo ở Lạng Sơn, Cao Bằng đầu những năm 80 và đặc biệt dữ dội là cuộc chiến quy mô cấp sư đoàn (của cả hai bên) được chỉ huy bởi cấp quân đoàn, quân khu diễn ra ở Vị Xuyên (Hà Giang).

Đây vừa là một chiến dịch vừa là một Mặt trận với nhiều trận đánh kéo dài.

Trên danh nghĩa đó là cuộc tranh chấp một loạt bình độ, cao điểm 300 – 400, 1200, 1507, 1509… mà Việt Nam gọi là núi Bạc, núi Đất, còn phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn, Giả Âm Sơn..; nhưng thực chất đây là những cuộc tiến công gây sức ép cho thất bại của Khmer Đỏ lúc đó, đặc biệt là sự thất thủ căn cứ Phnom Malai.

Mục tiêu của chiến dịch này vẫn là buộc Việt Nam triệt thoái lực lượng của mình khỏi Campuchia. Và Trung Quốc vẫn không dành được mục tiêu ấy.

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam – Trung Quốc, bao gồm cả hải chiến trên quần đảo Trường Sa, kết thúc cuối những năm 80, với kết sổ thương vong nặng nề cho cả hai bên. 

Leave A Reply

Your email address will not be published.